Phương pháp đếm tế bào máu trên các thiết bị phân tích tự động

Phương pháp này cho phép phân tích nhiều mẫu máu trong một thời gian rất ngắn. Các tế bào máu được phân loại theo một số đặc điểm vật lý.

- Lấy máu: chú ý thời gian garô không được quá lâu để tránh hiện tượng tập trung máu. Ống máu phải được trộn chất chống đông trong dung dịch (EDTA), lắc đều.

- Trong vòng 5 phút phải đem máu xét nghiệm để tránh sai số.

Do EDTA có ảnh hưởng đến tác dụng dung giải màng bạch cầu. EDTA làm thay đổi màng bạch cầu trong thời gian giữa 5 – 20 phút, làm tăng giả thành phần những tế bào máu có kích cỡ trung bình; ngược lại khi đo cùng một mẫu máu ở thời điểm từ 1 – 5 phút sau khi lấy máu và từ 20 phút đến 4 giờ sau khi lấy máu thì kết quả như nhau.

- Thiết bị phân tích huyết học tự động: thực hiện chủ yếu bằng phương pháp quang học hoặc phương pháp trở kháng điện:

o Phương pháp quang học sử dụng một hệ thống phát hiện ánh sáng, trong đó tế bào quang điện sẽ phát hiện những tia sáng bị khúc xạ hoặc bị nhiễu xạ do những tế bào máu đi qua một vùng được chiếu sáng trong hệ thống quang học. Hệ thống phát hiện sẽ tạo ra những xung điện có cỡ khổ phù hợp với độ lớn của các tế bào máu.

o Phương pháp trở kháng điện: trong phương pháp này, máu được pha trong dung dịch pha loãng, dung dịch này là chất dẫn điện tốt; các tế bào máu là những vật thể ít dẫn điện. Một dòng điện ổn định được tạo ra cho hỗn hợp dịch có tế bào máu giữa 2 điện cực ở 2 phía của 1 lỗ nhỏ mà các tế bào máu cần đếm sẽ chảy qua. Mỗi một tế bào máu khi di chuyển qua lỗ nhỏ tạo nên 1 điện trở làm biến đổi dòng điện hằng định và tạo nên 1 xung điện, số lượng xung điện tương đương với số lượng tế bào máu đã đi qua trong 1 khoảng thời gian nhất định. Độ lớn của mỗi xung điện tỷ lệ thuận với thể tích của tế bào máu (thể tích của chất điện phân bị chiếm chỗ).

Phương pháp trở kháng điện được sử dụng trên nhiều loại máy như Cell Dyn, Coulter, Sysmex… các thiết bị đều có hệ thống máy tính để tính toán và xử lý các số liệu.

- Đếm các tế bào máu:

o Hồng cầu được đếm trong máu pha loãng với 1 dung dịch không phá huỷ bạch cầu và tiểu cầu, như vậy bạch cầu cũng được đếm cùng hồng cầu, nhưng vì số lượng hồng cầu lớn hơn số lượng bạch cầu rất nhiều lần (khoảng 500 lần) nên sự sai lệch về số đếm hồng cầu khi có cả bạch cầu thường không đáng kể. Sự sai lệch này chỉ có ý nghĩa trong trường hợp số lượng bạch cầu tăng vượt quá 50.000/µl. Thể tích tiểu cầu thường nhỏ nên không gây sai số khi đếm hồng cầu.

o Bạch cầu được đếm trong máu được pha loãng thích hợp trong 1 dung dịch làm tan hồng cầu mà giữ nguyên bạch cầu. Số lượng bạch cầu được xác định bằng tổng số các tế bào máu có thể tích trong khoảng 35 – 346 fl. Số lượng bạch cầu có thể tăng giả do những tiểu cầu bị kết tập thành đám hoặc những hồng cầu còn nhân và những hồng cầu không bị phá huỷ hết.

o Tiểu cầu cũng được đếm trong 1 dung dịch còn giữ nguyên cả hồng cầu và bạch cầu, số lượng tiểu cầu được xác định bằng tổng số các tế bào máu có thể tích trong khoảng 2 – 24 fl.

About these ads

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s